Tiên thiên bát quái

Bàn về Tiên thiên Bát quái, Nhân tử Nguyễn Văn Thọ có viết: Thuyết quái truyện trong chu dịch nói: Thiên địa định vị. Sơn trạch thông khí. Lôi phong tương bác. Thủy Hỏa bất tương sạ. Bát quái tương thác.

Nhìn vào Bát quái của Phục Hi, ta thấy:

  • Kiền Khôn đối đỉnh ( Thiên địa định vị)
  • Cấn Đoài đối đỉnh ( Sơn trạch thông khí)
  • Chấn Tốn đối đỉnh (Lôi Phong tương bác)
  • Khảm Ly đối đỉnh (Thủy Hỏa bất tương sạ)

Tuy ở vào vị trí đối đỉnh nhau, nhưng thực ra không có kình chống nhau, mà ngược lại, lại hỗ trợ lẫn nhau.

Trời trên, đất dưới định tôn ti. Núi đầm thông khí. Nước trên núi tuôn xuống đầm hồ. Nước đầm hồ bốc lên núi thành mây, thành mưa. Gió, Sấm tăng cường hỗ trợ lẫn nhau. Nước, Lửa không chống đối nhau.

Thế cho nên, tám quẻ giao thoa, tác dụng lẫn với nhau, mà sinh ra mọi hiện tượng.

Đối với Dịch học mà nói thì dù có thiên biến vạn hóa cũng không thoát khỏi Âm và Dương. Thiệu Khang Tiết nói: “Thứ tự Tiên Thiên Bát Quái: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Càn, Đoài, Ly, Chấn thuộc phần Dương sắp xếp bên trái, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn thuộc phần Âm bên phải. Càn, Đoài là Thái Dương (Lão Dương), Ly, Chấn là Thiếu Âm; Tốn, Khảm là Thiếu Dương, Cấn, Khôn là Thái Âm”. Đây cũng là nguyên lý của Đông Tây trạch mệnh.

Các quẻ Càn Khôn, Ly Khảm hình thành nên hai trục tung và hoành của bốn phương chính, các quẻ còn lại ở bốn phương góc (Bàng, Ngung). Bát quái hình thành nên các cặp đối xứng nhau: Càn – Khôn; Ly – Khảm; Đoài – Cấn; Chấn – Tốn. Các cặp này ta thấy có quan hệ đối đãi đối lập nhau theo thứ tự từng hào một. VD: Quẻ Càn – Khôn, các hào Dương của quẻ càn đối đãi đối lập với các hào âm của quẻ Khôn theo thứ tự. Các quẻ còn lại cũng vậy. Nó còn đối đãi về mặt quái dương và quái âm, Càn dương đối với KHôn âm, KHảm dương đối đãi với Ly âm, và còn lại các cặp khác cũng vậy. Đây thể hiện tính: Nhất âm nhất dương chi vi đạo (Một âm một dương mới gọi là đạo), tương phản tương thành của các hiện tượng vũ trụ và nhân sinh. Như vợ với chồng, một âm một dương mới nảy nở sinh sôi, mới nối tiếp giòng giống. Còn nữa: Từ Chấn đến Càn thì hai quẻ 2 đầu là Dương, hai quẻ giữa là Âm (Càn, Chấn là dương, Đoài Ly là âm). Từ quẻ Tốn đến Khôn cũng vậy, Tốn Khôn là âm, Khảm Cấn là dương, thể hiện tính trong âm có dương và trong dương có âm. Những nguyên lý này được môn Bát trạch áp dụng vào việc hóa giải hướng xấu, không hợp rất hiệu quả. Ngày nay thường đọc mà không hiểu, chỉ áp dụng mà

không biết tại sao, đó là chưa hiểu rõ về nguyên lý Âm dương ngũ hành Bát quái. Tất cả cũng đều ở đó mà ra. Chỉ biết áp dụng Hậu thiên mà chưa dùng được tiên thiên.

Hậu thiên bát quái

Thuyết quái truyện nói rằng:

  • Đế xuất hồ Chấn: Vũ trụ vận động bắt đầu từ quẻ chấn (Quẻ Chấn là phương Đông, lệnh của tháng 2, mùa Xuân, mặt trời phương Đông mọc lên, là thời kỳ tỏa chiếu cho vạn vật sinh trưởng).
  • Tề hồ Tốn: Vận hành đến quẻ Tốn, vạn vật đã đầy đủ, hưng vượng (Quẻ Tốn là Đông Nam, lệnh của tháng 3 tháng 4, mặt trời đã lên cao, chiếu rọi vạn vật rõ ràng).
  • Tương kiến hồ Ly: Quẻ Ly là tượng trong ngày ánh sáng rực rỡ, mọi vật đều thấy rõ (Quẻ Ly là phương Nam lệnh của tháng 5, chính là lúc mặt trời ở trên cao, nhìn rõ mọi vật đang sinh trưởng).
  • Trí thiết hồ Khôn: Thiên đế (chỉ vũ trụ) giao cho đất (Khôn) trọng trách (dịch) nuôi dưỡng vạn vật (Quẻ Khôn là phương Tây Nam, lệnh của tháng 6 tháng 7; khôn là đất, nuôi dưỡng vạn vật, thời kỳ vạn vật đã phát triển đầy đủ).
  • Duyệt ngôn hồ Đoài: là lúc vạn vật tươi vui (thuyết tức tươi vui) bèn ứng ở quẻ Đoài là phương Tây lệnh của tháng 8, chính là lúc hoa quả trĩu đầy, lúc mừng được mùa).
  • Chiến hồ Càn: Thời khắc tương ứng với quẻ Càn, vạn vật mâu thuẫn, đối lập, đấu tranh (Quẻ Càn là phương Tây Bắc, lệnh của tháng 9 tháng 10. Mặt trời đã xuống chân phía Tây, là lúc tối sáng, Âm- Dương đấu tranh lẫn nhau).
  • Lao hồ Khảm: Khi vũ trụ đã vận hành đến khảm, mặt trời đã lặn, vạn vật mệt mỏi (Quẻ Khảm là phương Bắc, lệnh của tháng 11. Khảm là nước không ngừng chảy, nghĩa là lao khổ. Mặt trời ở phương nầy hoàn toàn không có, vạn vật đã mệt mỏi, là lúc nên nghỉ).
  • Thành ngôn hồ Cấn: Vũ trụ vận hành đến quẻ Cấn là đã hoàn thành một chu kỳ và sắp bước sang một chu kỳ mới (Quẻ CẤn là phương Đông Bắc, lệnh của tháng 12 và tháng Giêng, tức giao thời của Đông và Xuân, đen tối sắp qua, ánh sáng sắp tới, vạn vật đến đây đã kết thúc một ngày, cũng là lúc ngày mới sắp bắt đầu).

Sách viết: Phương vị Hậu thiên Bát quái cũng gọi là “Phương vị Văn Vương Bát quái”. Phương vị Hậu thiên Bát quái thể hiện bốn mùa chuyển đổi, tám tiết biến hóa, chu kỳ lưu hành của vạn vật sinh trưởng đem tới âm dương cùng nhau tồn tại, cùng gốc với nhau, quy luật tương sinh của ngũ hành, mẹ con (Mẫu tử).

Thứ Tự Hậu Thiên Bát Quái thể hiện nam nữ giao hợp (Càn Khôn giao cấu), vạn vật hóa sinh, thuyết minh Đạo Càn thành nam, Đạo Khôn thành nữ. Nếu được khí của cha làm nam, được khi của mẹ làm nữ. Ba nam đều lấy Khôn mẹ làm Thể, Càn cha làm Dụng; Ba nữ đều lấy Càn cha làm Thể, Khôn mẹ làm Dụng. Tượng trưng cho một gia đình: Càn là cha, Khôn là mẹ, Chấn là con trai trưởng, Tốn là con gái trưởng, Khảm là con trai giữa, Ly là con gái giữa, Cấn là con trai út, Đoài là con gái út. Còn biểu tượng cho cơ thể con người thì Càn là đầu, Khôn là bụng, Chấn là chân, Ly là mắt, Đoài là miệng, Tốn là tay và đùi, Khảm là tai, Cấn là mũi.

Thuyết quái truyện nói rằng: Càn là Trời vì vậy gọi là Bố, Khôn là đất vì vậy gọi là Mẹ. Quẻ Chấn hào dưới được Càn nên (sinh ra) là trưởng Nam. Quẻ Tốn hào dưới được Khôn cho nên (sinh ra) là Trưởng nữ. Quẻ Khảm hào giữa được Càn cho nên (sinh ra) được gọi là Trung nam, Quẻ Ly hào giữa được Khôn nên (sinh ra) được gọi là Trung nữ. Quẻ Cấn hào thượng được Càn nên (Sinh ra) được gọi là Thiếu Nam, Quẻ Đoài hào thượng được Khôn nên (sinh ra) được gọi là Thiếu nữ.