Thứ tự của 10 Thiên Can

Thứ tự mười thiên can được sắp xếp như sau:

  • 1 là Giáp
  • 2 là Ất
  • 3 là Bính
  • 4 là Đinh
  • 5 là Mậu
  • 6 là Kỷ
  • 7 là Canh
  • 8 là Tân
  • 9 là Nhâm
  • 10 là Quý

Ngũ hành của 10 Thiên Can

  • Giáp, Ất thuộc Mộc. Giáp là dương mộc; Ất là âm mộc.
  • Bính, Đinh thuộc Hỏa. Bính là dương hỏa; Đinh là âm hỏa.
  • Mậu, Kỷ thuộc Thổ. Mậu là dương thổ; Kỷ là âm thổ.
  • Canh, Tân thuộc Kim. Canh là dương kim; Tân là âm kim.
  • Nhâm, Quý thuộc thủy. Nhâm là dương thủy; Quý là âm thủy.

Thiên can được sắp xếp tuần tự theo chiều tương sinh của ngũ hành, bắt đầu từ hành Mộc và kết thúc ở hành Thủy.

Cũng đồng nhất với chu kỳ, sự phát triển của Lục khí (Khởi đầu Sơ kỳ là khí Phong mộc, rồi tới Nhị kỳ là khí quân hỏa, tiếp Tam kỳ là tướng hỏa, Tứ kỳ là thấp thổ, Ngũ kỳ là táo kim và cuối cùng Chung kỳ là Hàn thủy).

Đây cũng là quan niệm bắt đầu ở thời vạn vật đã hình thành, phát triển rồi cuối cùng lại quay về thu tàng.

Tính chất âm dương ngũ hành của 10 Thiên Can

Giáp thuộc dương, hành mộc là dương mộc. Đây là thời kỳ mầm sống của vạn vật bắt đầu. Giáp mộc là mộc thuần dương, tên là mộc của đại ngàn, tính của nó là cứng, là gỗ làm cột trụ vì vậy mà được gọi là dương mộc.

Ất thuộc âm, hành mộc. Là thời kỳ khí hậu đã ấm áp, vạn vật đã tươi tốt. Ất là mộc của thuần âm có tên là gỗ của thảo mộc, có vẻ đẹp kiều diễm, có tính mềm yếu, tình khắp nhân gian nên gọi là âm mộc.

Bính thuộc dương, hành hỏa. Là thời kỳ nóng bức gắt gao. Bính là hỏa thuần dương, có tên là hỏa của mặt trời, có công chiếu sáng trời đất, tính mãnh liệt làm tan sương tuyết, chiếu khắp vạn vật cho nên gọi là dương hỏa.

Đinh thuộc âm, hành hỏa. Là thời kỳ nóng mà không bức, nhiệt độ đã giảm. Đinh hỏa là hỏa thuần âm có tên là lửa của bếp, lửa của nến, chỉ chiếu sáng trong nhà, tính mềm yếu vì mọi người quên mình, được gọi là âm hỏa.

Mậu thuộc dương, hành thổ. Là thời kỳ khô ráo. Mậu là thổ thuần dương, là thổ trên tường thành, tính cao thượng, chất cứng mà hướng dương, dưỡng dục cho vạn vật nên gọi là dương thổ.

Kỷ thuộc âm, hành thổ. Là thời kỳ ẩm thấp. Kỷ là thổ thuần âm, tên gọi là thổ của ruộng vườn, có chức năng bồi dưỡng cây cối và ngăn nước, tính của nó ẩm ướt, chất mềm, ở những chỗ thấp, hướng về âm, tạo phúc cho nhân gian nên là âm thổ.

Canh thuộc dương, hành kim. Là thời kỳ khí hậu pha trộn giữa nóng và mát. Canh kim là kim thuần dương, tên là kim mũi kiếm, tính cứng khỏe, có sức sát phạt, phong cách cương trực, cứng rắn, sát phạt vạn vật nên được gọi là dương kim.

Tân thuộc âm, hành kim. Là thời kỳ khí hậu trong mát. Tân kim là kim thuần âm, ten gọi là ngọc quý, có công dụng khảm, nạm vật quý, tính nhu nhược, chất sáng trong, ấm, trang sức cho mọi người nên gọi âm kim.

Nhâm thuộc dương, hành thủy. Là nước lớn, cuồng nhiệt. Nhâm thủy là thủy thuần dương, có tên gọi là nước của sông, hồ, biển cả, chảy khắp nơi không ngừng, tính mạnh, chất cứng tưới tắm cho vạn vật nên gọi là dương thủy.

Quý thuộc âm, hành thủy. Là nước chảy nhẹ, ẩm thấp, ướt át. Quý thủy là thủy thuần âm, tên gọi là nước mưa có sức biến thành khí, tính của nó yên tĩnh, mềm yếu, nuôi nấng vạn vật nên gọi là âm thủy.

10 Thiên Can với phương vị và 4 mùa

  • Giáp, Ất là phương đông.
  • Bính, Đinh là phương nam.
  • Mậu, Kỷ là trung ương.
  • Canh, Tân là phương tây.
  • Nhâm, Quý là phương bắc.

Giáp, Ất thuộc mộc, là mùa xuân, gặp đất đai thì sản sinh ra vạn vật, là phương đông nên Giáp Ất gọi là mộc, phương đông.

Bính, Đinh thuộc hỏa, là mùa hạ, nóng gay gắt làm cho vạn vật sinh trưởng, là hỏa, phương nam.

Mậu, Kỷ thuộc thổ, là mùa hạ, được chính khí của hoàng cực nên nó hàm chứa đức của hoàng trung, có thể bao gồm vạn vật, ở bên trong, nên gọi là thổ, trung ương.

Canh, Tân thuộc kim, là mùa thu, là mua bắt đầu âm khí, vạn vật ngừng phát triển, ngôi vị thuộc phương tây nên gọi là kim, phương tây. – Nhâm, Quý thuộc thủy, là mùa đông, âm hóa nhũ chảy ra nên vạn vật vào mùa đông thì ẩn tàng, ngôi vị thuộc phương bắc, nên gọi là thủy, phương bắc.

Tóm lại, mười hai can phối với tứ thời như sau: Giáp Ất thuộc xuân, Bính Đinh thuộc hạ, Mậu Kỷ thuộc trưởng, Canh Tân thuộc thu, Nhâm Quý thuộc đông.