Lịch sử ra đời của thuyết Can Chi Ngũ Hành

Nhà thuật số Thiệu Vĩ Hoa, là hậu duệ đời thứ 29 của Thiệu Khang Tiết, viết trong các tác phẩm của ông về Thiên can, Địa chi như sau:

Mười Thiên can và Mười hai địa chi. Sử ký gọi thập can, là mười mẹ, thập nhị chi là mười hai con, còn gọi tắt là can chi.

Xét về lịch sử phát triển, đại thể đầu tiên phát minh ra thập can, sau đó là thập nhị chi, rồi tiếp nữa mới phát minh ra giáp tý. Từ 1600 đến 1562 TCN thời kỳ nhà Thương, Ân đã có can chi Giáp tý. Thập can đầu tiên được dùng vào đế hiệu thế hệ vương chiều nhà Thương, như Thành Thang có tên Thiên Ất, con của ông gọi là đại Đinh, trung Bính, trung Nhâm, cháu có tên là đại Giáp, … “Đại Nhiễu bắt đầu lấy giáp ất làm tên ngày, gọi là can, lấy tý sửu làm tên tháng gọi là chi”.

Điều đó nói lên sự ra đời của can chi có quan hệ mật thiết với lịch pháp. Ví dụ quẻ từ bốn mươi bốn quyển bảy của sách Ân hư thư khiết tiền biên nói “Ất mão bốc, dục Bính vũ, tân hợi bốc phục, dục nhâm vũ” đều nói lên thập can là ghi ngày.

Tác phẩm của Trần Viên viết “Sách Ngũ hành đại nghĩa nói: Can Chi là do Đại Sào phát hiện. Đại Sào lấy tình của ngũ hành để dùng giáp ất làm tên ngày gọi là can, dùng tý sửu làm tên tháng gọi là chi. Có việc liên quan tới ngày thì dùng trời, có việc liên quan đến đất thì dùng tháng. Vì âm dương có sự khác nhau nên có tên can chi.

Trong hoàng đế nội kinh tố vấn, một trong tứ đại kỳ thư của Đông phương (Chu dịch, Mai hoa, Đạo đức kinh – thời gian khoảng trên 5000 năm) cũng nói nhiều tới các can chi. “Thần xem ở Thái thủy thiên nguyên sách có chép rằng: cái khí của đan thiên, qua ở Mậu phần thuộc sao Ngưu, Nữ, cái khí của Kiền thiên qua ở Kỷ phận, thuộc sao Tâm, Vỹ”.

Về thời gian và ai là người phát hiện ra can chi và phối hợp thành giáp tý cho tới nay cũng chẳng có cơ sở nào để khảo cứu chính xác được, nó cũng nằm trong diện “vô thủy vô trung”. Chúng ta cũng nên biết vậy mà thôi. Việc xem xét nguồn gốc can chi ngũ hành chính xác hay không chính xác không ảnh hưởng đến việc học tập của mỗi chúng ta, mà cái chính là lý luận về can chi ngũ hành nó được ứng dụng rất rộng rãi trong các môn thuật số, Y học, … người học không thể không biết.

Thập thiên can và Thập nhị địa chi khái quát

Mười thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Mười hai địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Mười can thì có 5 can âm và 5 can dương, cứ trước một can âm thì sau lại là can dương, âm dương nối tiếp nhau. Mười hai địa chi cũng vậy. Đầu tiên, thứ nhất là dương, sau tới âm. Tại sao lại vậy?

“Tố vấn nhập thức vận khí luận áo, luận thập can nói: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương, Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm, ngũ hành cách một âm lại một dương nên gọi là mười ngày”. Giáp vì sao thuộc dương, Ất vì sao thuộc âm, các can khác cũng vậy.

Vì, Giáp Ất là thể hiện trong hậu thiên (đã thành, từ có tới có, từ có tới vô cùng vô tận), nên phải tuần tự từ trước tới sau, từ một tới 2 và tiến tới vô cùng tận, hằng hà xa số cứ nối tiếp nhau không ngừng. Số lẻ là dương, chẵn là âm, Giáp đầu tiên là số 1 nên thuộc dương, Ất thứ 2 nên thuộc âm, …

Vì sao lại chỉ có 10 can, vì sao lại có 12 chi? Câu hỏi này quá là khó trả lời thấu đáo được. Nhưng xét về ngũ vận lục khí thì có lẽ 10 thiên can, 12 địa chi có liên quan mật thiết (gốc là âm dương ngũ hành). Ngũ vận là Mộc vận, Hỏa vận, Thổ vận, Kim vận và Thủy vận. Lục khí là: Phong Hỏa Thử Thấp Táo Hàn. Thiên can chủ tính vận, địa chi chủ tính khí. Thiên can có 10, phối hợp ra ngũ Vận, địa chi có 12 đối xung ra lục khí.