Theo Lý học Phương Đông, để tính toán được thời gian, người ta dùng đơn vị Can Chi để tính lịch và qua đó dùng để thực hiện các thuật tính toán khác nhau với các bộ môn. Vậy Lục Thập Hoa Giáp là gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây.

Lục Thập Hoa Giáp Là Gì?

Xét theo nguyên nghĩa, chúng ta hiểu rằng “lục thập nghĩa là 60” còn “hoa giáp” tức là một chu kỳ hoa nở của con giáp. Như vậy, hiểu theo nguyên nghĩa thì “lục thập hoa giáp” chính là một chu kỳ vận hành của các con giáp hay cũng có nghĩa là một vòng tuần hoàn của các con giáp Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Lục thập hoa giáp bắt đầu từ “Giáp Tý” đến kết thúc là “Quý Hợi” là hết một vòng tuần hoàn.

Lục thập hoa giáp còn có các tên gọi khác là: sáu mươi hoa giáp, sáu mươi Giáp Tý.

Nguồn gốc của Lục Thập Hoa Giáp

Có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Lục Thập Hoa Giáp và các ghi chép cho đến hiện tại cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Chính vì thế, chúng ta có thể tạm hiểu theo sách Tử Vi Đẩu Số của Chu Tước Nhi chép lại rằng Lục Thập Hoa Giáp xuất hiện từ thời nhà Thương ở Trung Quốc, người ta đã bắt đầu sử dụng phép thập tiến trong số đếm. Và chính từ phép thập tiến này, người ta đặt ra các thiên can để chỉ các giai đoạn phát triển của sự vật hiện tượng.

Từ năm 1600 đến 1562 trước công nguyên thời kỳ nhà Thương, Ân đã có can chi Giáp Tý. Thập can đầu tiên được dùng vào đế hiệu thế hệ vương triều nhà Thương, như Thành Thang có tên Thiên Ất, con của ông gọi là đại Đinh, trung Bính, trung Nhâm, có cháu tên là đại Giáp,… “Đại Nhiễu bắt đầu lấy Giáp Ất làm tên ngày, gọi là can, lấy Tý, Sửu làm tên Tháng gọi là chi”.

Những điều trên cho thấy sự ra đời của Lục Thập Hoa Giáp là rất quan trọng và có quan hệ mật thiết đối với lịch pháp.

Thập Thiên Can trong Lục Thập Hoa Giáp

Qua quá trình theo dõi các hiện tượng tự nhiên, người ta bắt đầu phát minh ra Thập Thiên Can (tức là 10 can) bao gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý với ý nghĩa như sau:

  • Giáp: đây là giai đoạn mầm sống của vạn vật được bắt đầu. Giáp là Mộc thuần dương, tên là mộc của đại ngàn, tính là cương cứng, là gỗ trụ cột. Vì thế nên được gọi là Mộc Dương.
  • Ất: đây là thời kỳ khí hậu đã trở lên ấm áp, vạn vật tươi tốt. Ất là Mộc Âm có tên là gỗ của thảo mộc, có vẻ đẹp kiều diễm, có tính mềm yếu, tình khắp nhân gian nên gọi là âm mộc.
  • Bính: là thời kỳ nóng bức gắt gao. Bính là hỏa thuần dương, có tên là hỏa của mặt trời, có công chiếu sáng trời đất, tính mãnh liệt làm tan sương tuyết, chiếu khắp vạn vật cho nên gọi là dương hỏa.
  • Đinh: là thời kỳ nóng mà không bức, nhiệt độ đã giảm. Đinh hỏa là hỏa thuần âm có tên là lửa của bếp, lửa của nến, chỉ chiếu sáng trong nhà, tính mềm yếu vì mọi người quên mình, được gọi là âm hỏa.
  • Mậu: Là thời kỳ khô ráo. Mậu là thổ thuần dương, là thổ trên tường thành, tính cao thượng, chất cứng mà hướng dương, dưỡng dục cho vạn vật nên gọi là dương thổ.
  • Kỷ: Là thời kỳ ẩm thấp. Kỷ là thổ thuần âm, tên gọi là thổ của ruộng vườn, có chức năng bồi dưỡng cây cối và ngăn nước, tính của nó ẩm ướt, chất mềm, ở những chỗ thấp, hướng về âm, tạo phúc cho nhân gian nên là âm thổ.
  • Canh: Là thời kỳ khí hậu pha trộn giữa nóng và mát. Canh kim là kim thuần dương, tên là kim mũi kiếm, tính cứng khỏe, có sức sát phạt, phong cách cương trực, cứng rắn, sát phạt vạn vật nên được gọi là dương kim.
  • Tân: Là thời kỳ khí hậu trong mát. Tân kim là kim thuần âm, ten gọi là ngọc quý, có công dụng khảm, nạm vật quý, tính nhu nhược, chất sáng trong, ấm, trang sức cho mọi người nên gọi âm kim.
  • Nhâm: Là nước lớn, cuồng nhiệt. Nhâm thủy là thủy thuần dương, có tên gọi là nước của sông, hồ, biển cả, chảy khắp nơi không ngừng, tính mạnh, chất cứng tưới tắm cho vạn vật nên gọi là dương thủy.
  • Quý: Là nước chảy nhẹ, ẩm thấp, ướt át. Quý thủy là thủy thuần âm, tên gọi là nước mưa có sức biến thành khí, tính của nó yên tĩnh, mềm yếu, nuôi nấng vạn vật nên gọi là âm thủy.

Thập Nhị Địa Chi trong Lục Thập Hoa Giáp

Địa chi chỉ là tên gọi đặt cho các tháng tiết khí trong một năm, nó miêu tả 12 giai đoạn phát triển của cây cỏ từ lúc là hạt giống nảy mầm cho tới lúc ra hoa kết trái, diệt và tái sinh (Hình do khí sinh), cũng là biểu trưng của các giai đoạn phát triển của khí (Khí sinh hình) từ tháng 11 cho đến tháng 10.

  • Tý: là giai đoạn hạt giống hút nước để nảy mầm. Hay thời gian này là tháng 11, dương khí động, nhất dương bắt đầu sinh nơi nơi âm “Âm cực tất Dương sinh”.
  • Sửu: là giai đoạn mầm cong queo, chuẩn bị đội đất mà ra. Thuộc tháng chạp (tháng 12), là thời gian vạn vật động nhưng âm giữ lại không cho phát triển.
  • Dần: Là giai đoạn mầm phát triển, dương thịnh dần, mầm từ trong đất vượn lên. Thuộc tháng giêng (tháng 1), tượng hình của khí động. Nước dưới lòng đất muốn trào lên nhưng âm khí còn cứng. Mọi vật muốn vùng lên mà mọc.
  • Mão: Là giai đoạn rậm, cây cỏ phát triển mạnh. Thuộc tháng 2, biểu tượng cho sự tươi sáng thịnh. Vạn vật từ lòng đất, tựa hồ như tươi sáng thịnh lên khi le lói ánh dương tượng trưng cho hình mở cửa.
  • Thìn: Là giai đoạn chấn động, dương khí thịnh, cây cỏ lớn mạnh. Thuộc tháng ba, có tiếng sấm sét nổ rền. Dương khí động, âm khí chuyển vần giao hòa giao trưởng.
  • Tị: là giai đoạn cây cối vượn lên, thời dương khí cực thịnh, âm khí suy, cây cỏ vươn lên mạnh mẽ. Thuộc tháng 4.
  • Ngọ: Là giai đoạn dương khí đầy, âm khí bắt đầu nảy sinh, cây cỏ phát triển đầy đủ. Thuộc tháng 5.
  • Mùi: Là giai đoạn cây cỏ kết quả, có mùi vị. Thuộc tháng 6.
  • Thân: Là giai đoạn cây cỏ đã thành thục hết mức. Thuộc tháng 7, khí dương kim đầy đủ.
  • Dậu: Là giai đoạn co lại, cây cỏ vào thời kỳ thoái lui. Thuộc tháng 8. Khi âm kim thu liễm ẩn tàng.
  • Tuất: Là giai đoạn úa tàn, cây cỏ đến lúc suy vong, dương khí hết. Thuộc tháng 9, dương suy, giáng xuống và nhập vào lòng đất.
  • Hợi: Là giai đoạn âm khí đến cực điểm, cây cỏ chết, hủy diệt để chuyển sang giai đoạn nẩy mầm của hạt. Thuộc tháng 10, là thời điểm dương khí khởi lên tiếp cho thịnh âm (âm chưa chịu thoái lui), âm khí hặc sát vạn vật.

Như vậy, ta có 60 nạp âm (lục thập hoa giáp) như sau:

Giáp Tý Giáp Tuất Giáp Thân Giáp Ngọ Giáp Thìn Giáp Dần
Ất Sửu Ất Hợi Ất Dậu Ất Mùi Ất Tỵ Ất Mão
Bính Dần Bính Tý Bính Tuất Bính Thân Bính Ngọ Bính Thìn
Đinh Mão Đinh Sửu Đinh Hợi Đinh Dậu Đinh Mùi Đinh Tỵ
Mậu Thìn Mậu Dần Mậu Tý Mậu Tuất Mậu Thân Mậu Ngọ
Kỷ Tỵ Kỷ Mão Kỷ Sửu Kỷ Hợi Kỷ Dậu Kỷ Mùi
Canh Ngọ Canh Thìn Canh Dần Canh Tý Canh Tuất Canh Thân
Tân Mùi Tân Tỵ Tân Mão Tân Sửu Tân Hợi Tân Dậu
Nhâm Thân Nhâm Ngọ Nhâm Thìn Nhâm Dần Nhâm Tý Nhâm Tuất
Quý Dậu Quý Mùi Quý Tỵ Quý Mão Quý Sửu Quý Hợi