Bát trạch là gì?

Bát trạch là một trường phái Phong thủy đã tồn tại từ lâu đời, đến nay nó vẫn được áp dụng rộng rãi vào việc lựa chọn môi trường sống, bày trí nhà cửa, nơi cư ngụ, làm việc, buôn bán,… cho người sống và khẳng định được tính hiệu quả cao trong ứng dụng.

Bát trạch chia nhà ra làm tám loại khác nhau để tính toán cát hung, đồng thời cũng chia con người ra làm tám nhóm Bát quái khác nhau, tùy theo từng năm sinh để phối với tám loại trạch nhà mà tính cát hung.

Các loại trạch trong dương trạch

Theo trường phái Bát trạch, Dương trạch (Nhà cửa) được chia ra làm 8 loại khác nhau, căn cứ trên cơ sở phương vị tọa của Nhà và Bát quái hậu thiên để định. Tám loại đó là:

Trạch Đoài

Nhà mở cửa hướng Đông, tọa hướng Tây, mà hướng Tây thuộc Đoài nên được gọi là Đoài Trạch hay Trạch Đoài.

Trạch Càn

Nhà mở cửa hướng Đông Nam, tọa hướng Tây Bắc, mà hướng Tây Bắc thuộc Càn nên được gọi là Càn Trạch hay Trạch càn.

Trạch Khảm

Nhà mở cửa hướng Nam, tọa hướng Bắc, mà hướng Bắc thuộc Khảm nên được gọi là Khảm Trạch hay Trạch Khảm.

Trạch Cấn

Nhà mở cửa hướng Tây Nam, tọa hướng Đông Bắc, mà hướng Đông Bắc thuộc Cấn nên được gọi là Cấn Trạch hay Trạch Cấn.

Trạch Chấn

Nhà mở cửa hướng Tây, tọa hướng Đông, mà hướng Đông thuộc Chấn nên được gọi là Chấn Trạch hay Trạch Chấn.

Trạch Tốn

Nhà mở cửa hướng Tây Bắc, tọa hướng Đông Nam, mà hướng Đông Nam thuộc Tốn nên được gọi là Tốn Trạch hay Trạch Tốn.

Trạch Ly

Nhà mở cửa hướng Bắc, tọa hướng Nam, mà hướng Nam thuộc Ly nên được gọi là Ly Trạch hay Trạch Ly.

Trạch Khôn

Nhà mở cửa hướng Đông Bắc, tọa hướng Tây Nam, mà hướng Tây Nam thuộc Khôn nên được gọi là Khôn Trạch hay Trạch Khôn.

24 phương vị (24 sơn hướng)

Hai mươi tư phương vị hay còn gọi là 24 Sơn Hướng. Âm Dương gia gọi tên là hai mươi tư sơn, nói sơn thì hướng ở tại trong đó. Như Tý sơn thì tất phải Ngọ hướng, Ngọ sơn thì tất Tý hướng.

Nhâm sơn thì Bính hướng, mà Bính sơn thì Nhâm hướng. Hai mươi tư phương vị được thiết lập từ 4 Quẻ (Càn Khôn Cấn Tốn), Tám thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm và Quý) và mười hai địa chi (Tý cho tới Hợi).

Tám quẻ duy chỉ dùng ở bốn góc mà không dùng ở tứ chính. Lấy bốn quẻ chính xứng với ngôi vị của địa chi Tý Ngọ Mão Dậu, vì vậy mà không dùng quẻ mà dùng chi. Tám quẻ đã định tứ chính, thì lấy tám can phụ giúp thêm vào.

Giáp Ất giáp với Chấn, Bính Đinh giáp với Ly, Canh Tân giáp Đoài, Nhâm Quý giáp Khảm. Bốn góc thì lấy 8 chi phụ thêm, Tuất Hợi giáp Càn, Sửu Dần giáp Cấn, Thìn Tị giáp Tốn, Mùi Thân giáp Khôn. Hợp cả tứ duy bát can và mười hai chi lại thành ra hai mươi tư. Thiên can không dùng Mậu Kỷ, Mậu Kỷ là trung ương thổ, không có định vị.

Lấy hai mươi tư sơn phân thuộc vào tám quẻ thì một quẻ quản ba sơn (Nhất quái quản tam sơn). Tuất Càn Hợi thuộc quái Càn, Nhâm Tý Quý thuộc Khảm, Sửu Cấn Dần thuộc Cấn, Giáp Mão Ất thuộc Chấn, Thìn Tốn Tị thuộc Tốn, Bính NGọ Đinh thuộc Ly, Mùi Khôn Thân thuộc Khôn, Canh Dậu Tân thuộc Đoài gọi là Tám cung.

Độ số của 24 sơn hướng

Tám cung Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn và Ðoài còn được chia ra làm 24 sơn tức là mỗi cung được chia ra làm 3 sơn (Nhất quái quản tam sơ) như sau:

Cung Càn (Tây-bắc) có các sơn:

  • Tuất: nằm trong giới hạn từ 292.5 đến 307.5 độ.
  • Càn: nằm trong giới hạn từ 307.5 đến 322.5 độ.
  • Hợi: nằm trong giới hạn từ 322.5 đến 337.5 độ.

Cung Khảm (Bắc) có các sơn:

  • Nhâm: nằm trong giới hạn từ 337.5 đến 352.5 độ.
  • Tý: nằm trong giới hạn từ 352.5 đến 7.5 độ.
  • Quý: nằm trong giới hạn từ 7.5 đến 22.5 độ.

Cung Cấn (Ðông-bắc) có các sơn:

  • Sửu: nằm trong giới hạn từ 22.5 đến 37.5 độ.
  • Cấn: nằm trong giới hạn từ 37.5 đến 52.5 độ.
  • Dần: nằm trong giới hạn từ 52.5 đến 67.5 độ.

Cung Chấn (Ðông) có các sơn:

  • Giáp: nằm trong giới hạn từ 67.5 đến 82.5 độ.
  • Mão: nằm trong giới hạn từ 82.5 đến 97.5 độ.
  • Ất: nằm trong giới hạn từ 97.5 đến 112.5 độ.

Cung Tốn (Ðông-nam) có các sơn:

  • Thìn: nằm trong giới hạn từ 112.5 đến 127.5 độ.
  • Tốn: nằm trong giới hạn từ 127.5 đến 142.5 độ.
  • Tỵ: nằm trong giới hạn từ 142.5 đến 157.5 độ.

Cung Ly (Nam) có các sơn:

  • Bính: nằm trong giới hạn từ 157.5 đến 172.5 độ.
  • Ngọ: nằm trong giới hạn từ 172.5 đến 187.5 độ.
  • Ðinh: nằm trong giới hạn từ 187.5 đến 202.5 độ.

Cung Khôn (Tây-nam) có các sơn:

  • Mùi: nằm trong giới hạn từ 202.5 đến 217.5 độ.
  • Khôn: nằm trong giới hạn từ 217.5 đến 232.5 độ.
  • Thân: nằm trong giới hạn từ 232.5 đến 247.5 độ.

Cung Ðoài (Tây) có các sơn:

  • Canh: nằm trong giới hạn từ 247.5 đến 262.5 độ.
  • Dậu: nằm trong giới hạn từ 262.5 đến 277.5 độ.
  • Tân: nằm trong giới hạn từ 277.5 đến 292.5 độ.

Chính ngũ hành

  • Khôn Cấn thuộc Thổ, vị trí ở chính trung (Chính giữa).
  • Thìn Tuất Sửu Mùi, bốn vị trí này cũng thuộc Thổ.
  • Hợi Nhâm Tý Quý, bốn vị trí này thuộc Thủy, chỉ Phương Bắc.
  • Dần Giáp Mão Ất Tốn, năm vị trí này thuộc Mộc, ở Phương Đông.
  • Tỵ Bính Ngọ Đinh, bốn vị trí này thuộc Hỏa, ở Phương Nam.
  • Thân Canh Dậu Tân Càn, năm vị trí này thuộc Kim, ở Phương Tây.